Về bài viết của Nguyễn Vĩnh Hoàng: Hà Nội trong hồ sơ và Hà Nội trong trí tưởng tượng

Người xem: 979

Lâm Trực@

Đọc bài viết của Nguyễn Vĩnh Hoàng về Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, tôi có cảm giác như mình vừa đọc hai câu chuyện khác nhau về cùng một thành phố.

Trong câu chuyện của Nguyễn Vĩnh Hoàng, Hà Nội đang chuẩn bị san phẳng những ngôi làng cổ ven sông, đẩy người dân ra khỏi nơi ở bằng những khoản đền bù “rẻ mạt”, biến không gian văn hóa thành những khối bê tông vô hồn và buộc người dân phải “hy sinh” cho lợi ích của một nhóm người nào đó không được gọi tên.

Còn trong những hồ sơ, quyết định và báo cáo tiến độ mà tôi có dịp đọc lại những ngày qua, tôi lại nhìn thấy một dự án đang được mô tả theo một cách hoàn toàn khác. Ở đó có các công viên công cộng ven sông, có hành lang sinh thái, có không gian cảnh quan, có các dự án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được lập thành dự án độc lập trước khi triển khai các hạng mục chính.

Sự khác biệt ấy khiến tôi tự hỏi: rốt cuộc Nguyễn Vĩnh Hoàng đang phản biện một dự án có thật hay đang phản biện một dự án do chính anh tưởng tượng ra?

Điều đáng chú ý là gần như toàn bộ bài viết của anh được xây dựng trên những từ ngữ rất mạnh: “rẻ mạt”, “bức tử”, “san phẳng”, “bê tông vô hồn”, “hy sinh ép buộc”… Đây đều là những từ có sức kích thích cảm xúc rất lớn. Chúng khiến người đọc dễ nổi giận, dễ đồng cảm, dễ đứng về một phía. Nhưng cảm xúc không phải là chứng cứ.

Khi Nguyễn Vĩnh Hoàng khẳng định người dân sẽ bị đền bù “rẻ mạt”, tôi tìm mãi trong bài viết mà không thấy một quyết định giá đất nào, không thấy một phương án bồi thường nào, không thấy một bảng so sánh nào giữa giá đền bù và giá thị trường. Điều duy nhất xuất hiện là kết luận.

Trong nghiên cứu hay phản biện chính sách, kết luận luôn phải đi sau dữ liệu. Ở đây, dường như dữ liệu lại được yêu cầu phải phục vụ cho một kết luận đã có sẵn.

Tôi chú ý hơn tới một luận điểm khác. Nguyễn Vĩnh Hoàng cho rằng dự án sẽ “san phẳng các làng cổ ven sông để thay thế bằng những khối bê tông vô hồn”. Đây là một khẳng định rất nghiêm trọng. Bởi nếu đúng như vậy, đó sẽ không còn là câu chuyện quy hoạch nữa mà là câu chuyện phá hủy di sản.

Nhưng điều lạ là trong những tài liệu liên quan đến Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng mà tôi được tiếp cận, thứ xuất hiện nhiều lại không phải là bê tông mà là công viên, cảnh quan và không gian công cộng.

Theo báo cáo tiến độ ngày 18/5/2026, hạng mục đang được triển khai trước là Công viên công cộng Phú Thượng. Cùng với đó, ngày 22/3/2026, UBND thành phố ban hành Quyết định số 1248/QĐ-UBND chấp thuận chủ trương thực hiện dự án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư độc lập phục vụ chính công trình này. Nếu mục tiêu là bê tông hóa ven sông thì việc ưu tiên một công viên công cộng rộng gần 20 ha là một lựa chọn khá khó hiểu.

Cũng từ những hồ sơ đó, tôi thấy thành phố không triển khai dự án theo kiểu “lấy đất trước, tính chuyện dân sau” như nhiều người hình dung. Ngay trong các dự án thành phần đã xuất hiện yêu cầu xây dựng các phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư độc lập.

Tất nhiên, một quyết định hành chính không tự động biến mọi thứ thành hoàn hảo. Nhưng ít nhất nó cho thấy một điều: điều Nguyễn Vĩnh Hoàng mô tả như một cuộc tước đoạt đơn giản trên thực tế lại đang được triển khai bằng một hệ thống thủ tục khá phức tạp nhằm giải quyết chính vấn đề quyền lợi của người dân.

Nếu nhìn rộng hơn, có thể thấy cách làm này không phải mới xuất hiện ở dự án sông Hồng. Trong nhiều dự án hạ tầng lớn gần đây, Hà Nội đều áp dụng cách tiếp cận tương tự. Chẳng hạn tại dự án Vành đai 2,5 đoạn Đầm Hồng – Nguyễn Trãi, thành phố đã chuẩn bị 500 căn hộ tái định cư và 220 thửa đất tái định cư; tại đoạn Ngụy Như Kon Tum – Nguyễn Trãi là 360 thửa đất và 150 căn hộ tái định cư; tại dự án Quốc lộ 6 đoạn Ba La – Xuân Mai là phương án tái định cư cho hơn 1.500 hộ dân. Những số liệu này không phải số liệu của Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, nhưng chúng cho thấy một thực tế đáng lưu ý: trong nhiều dự án lớn, Hà Nội đang theo đuổi cách làm gắn giải phóng mặt bằng với chuẩn bị tái định cư thay vì bỏ mặc người dân như cách một số người mô tả.

Càng đọc bài viết của Nguyễn Vĩnh Hoàng, tôi càng cảm thấy mục tiêu chính của anh không phải là phân tích quy hoạch. Nếu là phân tích quy hoạch, người ta sẽ tranh luận về mật độ xây dựng, về không gian xanh, về chỉ tiêu dân số, về phương án bảo tồn làng nghề, về cơ chế đền bù hay tái định cư. Còn ở đây, mọi con đường đều dẫn tới một kết luận duy nhất: chính quyền đối lập với nhân dân.

Đó mới là thông điệp xuyên suốt của bài viết.

Bởi vậy nên người đọc sẽ thấy một hiện tượng khá thú vị. Những dữ liệu có thể làm suy yếu kết luận ấy gần như biến mất khỏi bài viết. Không có các quyết định tái định cư. Không có các dự án công viên. Không có các nội dung về cảnh quan sinh thái. Không có những thông tin trái chiều với nhận định của tác giả.

Đó là một thủ pháp quen thuộc trong tuyên truyền chính trị: chỉ lựa chọn những chi tiết có lợi cho kết luận của mình và loại bỏ những chi tiết bất lợi.

Tôi không cho rằng mọi dự án của Hà Nội đều hoàn hảo. Không ai nên nghĩ như vậy. Một dự án lớn luôn cần được giám sát. Người dân có quyền đòi hỏi minh bạch. Báo chí và xã hội có quyền chất vấn chính quyền.

Nhưng phản biện chỉ có giá trị khi nó trung thực với toàn bộ dữ liệu, chứ không phải với một phần dữ liệu được lựa chọn có chủ đích.

Đọc xong bài viết của Nguyễn Vĩnh Hoàng rồi đọc lại những hồ sơ liên quan tới Dự án Trục đại lộ cảnh quan sông Hồng, tôi đi đến một cảm giác rất đơn giản: Nguyễn Vĩnh Hoàng không thực sự tranh luận với dự án đang tồn tại trong các văn bản quy hoạch và các quyết định hành chính. Anh đang tranh luận với một dự án khác, một Hà Nội khác, được dựng lên từ những giả định bi quan nhất và từ những kết luận có trước chứng cứ. Còn Hà Nội tồn tại trong hồ sơ là một câu chuyện khác. Có thể còn nhiều điều phải bàn, nhiều điều phải giám sát, nhưng chắc chắn không giống với bức tranh tận thế mà anh đang cố vẽ ra.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *