Nguyễn Thông và kỹ nghệ phá hủy niềm tin

Người xem: 297

Lâm Trực@

Người ta thường nghĩ sự chống phá luôn bắt đầu bằng tiếng hét. Không hẳn. Có những kiểu chống phá nguy hiểm hơn nhiều: nó bắt đầu bằng tiếng cười nhếch mép.

Đọc những dòng “nhật ký tháng 5” của Nguyễn Thông, cảm giác đầu tiên là thứ giọng điệu bỡn cợt rất quen thuộc của một người từng trải: cười chuyện thiên hạ kẹt xe ngày lễ, cười đôi vợ chồng than đĩa cơm 35 nghìn đắt, cười chuyện lãnh đạo từng được “tín nhiệm cao” rồi vào tù, cười cả chiến sự Nga – Ukraine như “trò trẻ con”. Cái giọng “hi hi”, “he he”, “chết cười”, “thiên hạ cười cho”… khiến người đọc có cảm giác đây chỉ là vài mẩu tản văn xã hội.

Nhưng chính ở đó mới là điều đáng nói.

Bởi Nguyễn Thông không viết để kể chuyện. Ông ta đang làm một việc khác sâu hơn nhiều: dùng tiếng cười để phá hủy niềm tin công cộng.

Đó là một thủ pháp rất hiện đại. Không cần hô hào lật đổ. Không cần khẩu hiệu dữ dội. Chỉ cần khiến con người tin rằng mọi thứ đều giả dối, mọi cơ chế đều vô nghĩa, mọi lời nói chính trị đều đáng khinh bạc. Khi ấy, xã hội sẽ tự mục ruỗng từ bên trong.

Triết gia Socrates từng nói: “Điều nguy hiểm nhất không phải là cái ác ồn ào, mà là khi con người quen sống trong sự hoài nghi mọi điều tốt đẹp.”

Nguyễn Thông không dựng lên một “sự thật” mới. Ông ta làm một việc nguy hiểm hơn: khiến người đọc dần tin rằng chẳng còn điều gì đáng tin nữa.

Hãy nhìn kỹ cách ông ta viết.

Ban đầu là chuyện “lấy phiếu tín nhiệm”. Đây là điểm Nguyễn Thông đánh trúng tâm lý xã hội. Đúng là đã có những cán bộ từng đạt tỷ lệ tín nhiệm cao rồi sau đó bị xử lý. Đúng là ở nhiều nơi từng tồn tại bệnh hình thức, nể nang, “dĩ hòa vi quý”. Đúng là những con số “100% tín nhiệm cao” dễ gây phản cảm trong mắt người dân.

Nhưng từ một khuyết điểm có thật, Nguyễn Thông lập tức đẩy sang một kết luận đầy ác ý: “Bệnh ăn vào phủ tạng rồi, không sửa được.”

Đây không còn là phản biện nữa. Đây là phủ định sạch trơn.

Cái nguy hiểm nằm ở chỗ ấy.

Một người phản biện tử tế sẽ chỉ ra cái sai để thúc đẩy sửa chữa. Còn Nguyễn Thông cố tình dẫn người đọc tới tâm lý rằng mọi nỗ lực chỉnh đốn đều vô ích, mọi cải cách đều là trò diễn. Ông ta không nhìn vào việc hàng loạt cán bộ cấp cao đã bị xử lý như một biểu hiện của tự thanh lọc, mà lại dùng chính những vụ xử lý ấy để chứng minh rằng “hệ thống đã hỏng hoàn toàn”.

Đó là kiểu lập luận ngụy biện quen thuộc: lấy cái sai của bộ phận để phủ định cái đúng của toàn thể.

Nếu một bác sĩ chữa được hàng trăm bệnh nhân nhưng vài ca thất bại, người ta sẽ nói y học cần tiến bộ thêm. Chỉ có kẻ cực đoan mới kết luận “y học là vô nghĩa”. Nhưng trong chính trị, Nguyễn Thông lại cố tình đẩy người đọc đến đúng kiểu cực đoan ấy.

Điều đáng chú ý hơn là cách ông ta gieo cảm giác khinh bạc với quyền lực nhà nước.

Ông ta gọi một lãnh đạo đã qua đời là “đế vương”. Ông ta dùng những câu kiểu “không kèn không trống”, “thiên hạ cười cho”, “trò này”… để làm mọi giá trị công quyền trở nên lố bịch. Đây là kỹ thuật “hạ thiêng” rất phổ biến trong truyền thông phản kháng hiện đại: không tranh luận trực diện mà dùng giễu nhại để bào mòn uy tín biểu tượng.

Một khi công chúng quen nhìn mọi thể chế bằng ánh mắt chế giễu, xã hội sẽ dần mất khả năng tôn trọng bất kỳ giá trị chung nào nữa.

Nguy hiểm hơn, Nguyễn Thông còn khéo léo dựng nên tâm lý đối kháng giữa “dân” và “cán bộ”.

Ông ta dẫn lại câu nói của ông Mai Tiến Dũng: “Nếu chính quyền sai thì nhận lỗi trước dân. Nếu dân sai thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.”

Rồi từ đó suy diễn rằng: “Xã hội chia ra hai hạng người: cán bộ và dân.”

Nghe rất kích động. Và cũng rất nguy hiểm.

Bởi trong bất kỳ nhà nước nào, chính quyền cũng có trách nhiệm công vụ còn công dân có trách nhiệm pháp lý. Hai vế đó vốn không đối lập nhau. Nhưng Nguyễn Thông cố tình diễn giải nó thành một bằng chứng cho thấy “cán bộ đứng ngoài pháp luật”.

Đó là thủ pháp cắt ngữ cảnh để tạo hiệu ứng chính trị.

Ông ta tiếp tục lãng mạn hóa chế độ phong kiến bằng cách nói vua chúa ngày xưa còn biết nghe “gián quan”, biết nghe “phản biện”, rồi đối lập với hiện tại như một xã hội “khinh rẻ dân”. Đây là kiểu hoài cổ đầy cảm tính và thiếu công bằng lịch sử. Chính các triều đại phong kiến mà ông ta ca tụng cũng từng có những thời kỳ tru di, đàn áp, bịt miệng can gián vô cùng khốc liệt.

Nhưng với người viết theo hướng gieo bất mãn, sự thật lịch sử không quan trọng bằng cảm xúc mà nó tạo ra.

Điều đáng chú ý là Nguyễn Thông rất ít khi đưa giải pháp. Ông ta chủ yếu tạo tâm trạng. Một thứ tâm trạng chán chường, cay độc, mất niềm tin. Đó là lý do văn phong của ông ta luôn pha tiếng cười nhạt. Vì tiếng cười dễ lan hơn lý luận. Một câu “he he” nhiều khi tác động mạnh hơn một bài chính luận dài.

Triết gia Friedrich Nietzsche từng cảnh báo: “Kẻ nào coi thường mọi thứ cuối cùng sẽ không còn khả năng tạo ra bất cứ giá trị nào.”

Đó chính là bi kịch của thứ văn chương khinh bạc kiểu Nguyễn Thông. Nó khiến người đọc có cảm giác mình tỉnh táo hơn, “nhìn thấu” hơn, nhưng lâu dần lại đẩy con người vào trạng thái hoài nghi cực đoan: không còn tin luật pháp, không còn tin thể chế, không còn tin truyền thông, không còn tin cả những nỗ lực sửa sai.

Một xã hội mất niềm tin sẽ không mạnh lên. Nó chỉ mệt mỏi hơn.

Điều đáng sợ nhất không phải một vài câu châm biếm của Nguyễn Thông. Điều đáng sợ là nếu quá nhiều người bắt đầu quen với tâm lý ấy: thấy mọi thứ đều vô nghĩa, thấy mọi cải cách đều giả tạo, thấy mọi giá trị chung chỉ đáng để cười nhạt.

Bởi khi niềm tin công cộng bị đập vỡ hoàn toàn, thứ còn lại thường không phải tự do hay tiến bộ, mà là hỗn loạn và hư vô.

Và lịch sử nhân loại đã nhiều lần chứng minh: một dân tộc có thể vượt qua nghèo đói, chiến tranh, thậm chí sai lầm. Nhưng rất khó đứng vững nếu đánh mất niềm tin vào chính khả năng tự sửa chữa của mình.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *