Vài ý kiến về bài viết của Tô Văn Trường xung quanh vụ Hồ Duy Hải

Người xem: 970

Lâm Trực@

Vụ án xảy ra tại Bưu điện Cầu Voi năm 2008 và bản án tử hình đối với Hồ Duy Hải là một trong những vụ án gây tranh luận xã hội kéo dài nhất trong nhiều năm qua. Việc còn có ý kiến khác nhau là điều bình thường trong một xã hội pháp quyền đang vận động. Tuy nhiên, tranh luận cần dựa trên đầy đủ dữ kiện pháp lý đã được xác lập, thay vì chỉ nhấn mạnh những chi tiết bất lợi để tạo cảm giác rằng toàn bộ nền tảng bản án bị sụp đổ.

Ảnh minh họa

Bài viết của ông Tô Văn Trường, được ông Nguyễn Xuân Diện đăng lại, đặt trọng tâm vào các “khoảng mờ” tố tụng, đặc biệt là vấn đề vật chứng. Đây là chi tiết có thật: cơ quan điều tra không thu giữ được con dao và chiếc thớt được xác định là hung khí; sau đó đã mua vật tương tự để phục vụ thực nghiệm điều tra. Sai sót này đã được thừa nhận trong các bản án và trong quyết định giám đốc thẩm năm 2020 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao. Trong phiên họp giám đốc thẩm, Chánh án khi đó là Nguyễn Hòa Bình cũng xác nhận có thiếu sót trong quá trình thu thập, bảo quản chứng cứ.

Nhưng điều cần nói rõ là: theo lập luận của Hội đồng Thẩm phán, những sai sót tố tụng đó không làm thay đổi bản chất vụ án. Quyết định giám đốc thẩm năm 2020 giữ nguyên bản án tử hình không phải vì phủ nhận tồn tại thiếu sót, mà vì đánh giá tổng thể hệ thống chứng cứ vẫn đủ căn cứ buộc tội. Lời khai của bị cáo được cho là phù hợp với diễn biến hiện trường, phù hợp với cơ chế gây án và các chứng cứ gián tiếp khác; đồng thời không có căn cứ pháp lý xác định việc bức cung, nhục hình. Việc chỉ nhấn mạnh thiếu sót mà không trình bày đầy đủ lập luận này khiến người đọc có thể hiểu rằng toàn bộ cấu trúc chứng cứ đã bị vô hiệu hóa, trong khi cơ quan xét xử cấp cao nhất đã có nhận định ngược lại.

Một điểm khác cần làm rõ là cách diễn đạt về vật chứng. Nói rằng “tang vật quan trọng bị tiêu huỷ” dễ tạo cảm giác cơ quan điều tra đã làm mất chứng cứ đã thu giữ. Hồ sơ vụ án thể hiện theo hướng khác: hung khí thực tế không thu giữ được vì đã bị vứt bỏ sau khi gây án; việc mua vật tương tự là để phục vụ thực nghiệm. Sai sót là có thật, nhưng bản chất pháp lý khác với hành vi tiêu huỷ vật chứng đã thu giữ. Sự khác biệt này không phải là kỹ thuật ngôn từ, mà là ranh giới giữa thiếu sót nghiệp vụ và hành vi làm sai lệch hồ sơ.

Bài viết cũng đặt vụ án vào mạch các vụ án oan từng được Nhà nước thừa nhận và bồi thường, từ đó gợi mở khái niệm “lỗi hệ thống”. Đúng là lịch sử tư pháp Việt Nam từng ghi nhận nhiều trường hợp oan sai; đúng là cải cách tư pháp phải gắn với cơ chế tự rà soát. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, không có quyết định tư pháp nào xác định Hồ Duy Hải bị oan. Việc đặt vụ án này vào cùng trường liên tưởng với các vụ oan đã được xác nhận có thể tạo ấn tượng rằng đây là một oan sai đã được chứng minh, trong khi về mặt pháp lý điều đó chưa xảy ra. Tranh luận xã hội không thể thay thế phán quyết tư pháp.

Có lập luận cho rằng việc bản án chưa được thi hành suốt nhiều năm cho thấy chính các cơ quan có thẩm quyền cũng nghi ngờ tính đúng đắn của bản án. Cách suy diễn này không có cơ sở pháp lý. Việc tạm dừng thi hành án xuất phát từ các thủ tục kháng nghị, xem xét giám đốc thẩm và quyết định tạm hoãn theo thẩm quyền; không có văn bản nào tuyên bố rằng việc trì hoãn đồng nghĩa với việc thừa nhận bản án có sai lầm bản chất. Trong một nhà nước pháp quyền, việc tạm dừng thi hành để xem xét theo trình tự đặc biệt là cơ chế bảo đảm thận trọng, không phải sự mặc nhiên thừa nhận sai sót.

Nguyên tắc đối với án tử hình phải đạt tiêu chuẩn chứng cứ nghiêm ngặt là điều không ai phủ nhận. Tuy nhiên, đánh giá “còn nghi ngờ hợp lý” hay không là chức năng của cơ quan xét xử trên cơ sở hồ sơ và tranh tụng, không phải kết luận được rút ra chỉ từ một vài chi tiết gây tranh cãi. Hội đồng Thẩm phán – cơ quan xét xử cao nhất – đã cân nhắc chính những tranh luận đó trong phiên giám đốc thẩm và đi đến kết luận rằng các sai sót tố tụng không đủ để hủy án. Có thể không đồng tình với kết luận này, nhưng không thể bỏ qua nó trong một bài viết phê phán hệ thống.

Việc kêu gọi “trách nhiệm chính trị ở tầm cao nhất” cũng cần được nhìn nhận thận trọng. Chủ tịch nước có thẩm quyền ân giảm án tử hình; còn hoạt động xét xử thuộc về tòa án độc lập theo luật định. Một cơ chế “chỉ đạo rà soát” ngoài khuôn khổ tố tụng không phải là thiết chế được quy định trong pháp luật hiện hành. Nếu muốn tiếp tục xem xét vụ án, con đường phù hợp vẫn phải là các thủ tục tố tụng đặc biệt theo luật, chứ không phải diễn ngôn chính trị.

Cũng cần nói thêm về bối cảnh và thời điểm của bài viết. Khi một vụ án đã được xem xét qua nhiều cấp, đã có quyết định giám đốc thẩm của cơ quan xét xử cao nhất, việc lặp lại những lập luận cũ nhưng đặt trong ngôn ngữ cảm xúc mạnh và được chia sẻ như một sự đồng thuận quan điểm dễ tạo ra ấn tượng rằng có những “bí mật bị che giấu” hoặc “sự thật chưa được nói ra”. Sự cộng hưởng giữa người viết và người chia sẻ, nếu thiếu nhấn mạnh đến các kết luận tư pháp đã có hiệu lực, có thể vô tình hoặc hữu ý khơi lại nghi ngờ trong quần chúng theo hướng thiếu cân bằng. Trong bối cảnh thông tin lan truyền nhanh, một cách đặt vấn đề thiên lệch rất dễ bị diễn giải thành thông điệp rằng hệ thống tư pháp đang che giấu sai lầm, dù điều đó chưa được bất kỳ cơ quan có thẩm quyền nào kết luận.

Phản biện là quyền và cũng là động lực của cải cách. Nhưng phản biện càng có trách nhiệm bao nhiêu thì càng phải đầy đủ dữ kiện bấy nhiêu. Đặt lại nghi vấn là cần thiết; gieo cảm giác hoài nghi chung chung lại là chuyện khác. Đối với một vụ án đặc biệt nghiêm trọng, việc khơi dậy nghi ngờ trong xã hội mà không song hành với việc trình bày trọn vẹn các phán quyết đã có hiệu lực không chỉ là vấn đề học thuật, mà còn là vấn đề trách nhiệm công dân. Niềm tin vào công lý không thể được củng cố bằng sự im lặng trước sai sót, nhưng cũng không thể được xây dựng trên sự nhấn mạnh một chiều những thiếu sót đã được xem xét và đánh giá trong khuôn khổ pháp luật.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *