Lâm Trực@
Bài của Như Thổ, được Nguyễn Xuân Diện lan truyền, là một ví dụ khá điển hình của lối viết “chính luận cảm tính“: cảm xúc đi trước, kết luận có sẵn từ đầu, còn dữ kiện được lựa chọn để phục vụ kết luận ấy.

Đọc kỹ sẽ thấy tác giả không thực sự tập trung phân tích dự án sông Hồng, mà tập trung xây dựng một hình ảnh: chính quyền Hà Nội đang bị doanh nghiệp “sai khiến“, người dân đang bị dồn ép, còn tác giả đứng ở vị trí người bảo vệ dân chúng. Toàn bộ kết cấu bài viết được dựng quanh trục tâm lý đó.
Điểm đúng của bài viết không phải là không có.
Thứ nhất, một dự án có quy mô rất lớn, liên quan tới hàng vạn người dân, hàng nghìn héc-ta đất, đương nhiên phải được giám sát công khai. Việc đặt câu hỏi về quy trình lựa chọn nhà đầu tư, định giá đất, cơ chế đối ứng hay tái định cư là hoàn toàn chính đáng.
Thứ hai, lịch sử phát triển đô thị ở Việt Nam từng xuất hiện nhiều vụ việc đền bù, giải phóng mặt bằng gây tranh cãi. Vì vậy yêu cầu minh bạch hóa thông tin là điều hợp lý.
Thứ ba, việc bảo đảm sinh kế và nơi ở của người dân sau thu hồi đất luôn là vấn đề phải được quan tâm.
Nhưng phần đúng ấy chỉ chiếm một phần rất nhỏ. Phần còn lại là kỹ thuật dẫn dắt.
Thủ pháp đầu tiên là biến một đề xuất thành một mệnh lệnh.
Tác giả liên tục dùng các từ như “tối hậu thư”, “giật dây”, “sai khiến chính quyền”. Trong khi xét về bản chất hành chính, doanh nghiệp gửi văn bản đề xuất tiến độ là chuyện hết sức bình thường. Doanh nghiệp nào làm dự án cũng phải xây dựng timeline mong muốn.
Hãy hình dung một người đi ăn cưới hỏi nhà gái: “Chúng tôi dự kiến ngày 15 ăn hỏi, ngày 20 đón dâu.”
Đó là đề xuất.
Nhưng Như Thổ lập tức diễn giải thành: “À, anh đang ra lệnh cho nhà gái phải cưới đúng ngày đó.”
Đó là một bước nhảy logic rất lớn. Từ “đề nghị” bị biến thành “ép buộc”. Từ “kế hoạch” bị biến thành “mệnh lệnh”. Từ “mong muốn” bị biến thành “chỉ đạo”.
Đó là kỹ thuật thay đổi ngữ nghĩa để tạo cảm giác phẫn nộ.
Thủ pháp thứ hai là sử dụng câu hỏi tu từ như bằng chứng.
Hãy nhìn loạt câu: “Doanh nghiệp sai khiến chính quyền?”, “Đằng sau là gì?”, “Ai định giá?”, “Đổi lấy 5000 ha đất có đúng không?”
Vấn đề là tác giả không đưa ra chứng cứ nào cho các nghi vấn ấy. Nhưng trong tâm lý đám đông, một câu hỏi được lặp đi lặp lại thường tạo cảm giác rằng chắc hẳn phải có vấn đề gì đó.
Đây là kỹ thuật rất quen thuộc. Nó giống như việc đứng giữa chợ rồi hỏi: “Không biết ông A lấy tiền ở đâu mà giàu nhanh thế?”
Người nghe lập tức nghi ngờ ông A, dù người hỏi chẳng có bằng chứng gì. Như vậy, câu hỏi được sử dụng như một dạng cáo buộc trá hình.
Thủ pháp thứ ba là lựa chọn dữ kiện một chiều.
Bài viết nhắc đến những người dân phản đối. Nhưng không hề đề cập tới những người dân đồng thuận. Nhắc đến khó khăn giải phóng mặt bằng. Nhưng không nhắc đến lợi ích hạ tầng. Nhắc đến Thủ Thiêm. Nhưng không nhắc tới năng lực tài chính, kinh nghiệm triển khai hay lý do doanh nghiệp được lựa chọn.
Nói cách khác, tác giả chỉ đưa lên bàn cân những quả cân có lợi cho luận điểm của mình.
Nếu một luật sư chỉ trình bày chứng cứ buộc tội mà giấu toàn bộ chứng cứ gỡ tội thì đó không phải tranh luận. Đó là vận động cảm xúc.
Thủ pháp thứ tư là tạo ra hình ảnh đối lập đạo đức.
Một bên là “người dân”. Một bên là “doanh nghiệp“. Ở giữa là “chính quyền”.
Người đọc được dẫn dắt để mặc nhiên tin rằng người dân là nạn nhân, doanh nghiệp là kẻ hưởng lợi, còn chính quyền có nguy cơ trở thành đồng phạm.
Đây là công thức quen thuộc của chủ nghĩa dân túy. Nó đơn giản hóa một bài toán phát triển cực kỳ phức tạp thành một vở kịch thiện – ác.
Trong khi thực tế, quy hoạch đô thị luôn là sự cân bằng giữa lợi ích công cộng, lợi ích kinh tế và quyền lợi cư dân. Không có thành phố nào mở rộng hạ tầng mà không đụng tới đất đai. Không có quốc gia nào xây cầu, làm đường, chỉnh trị sông ngòi mà không phải giải phóng mặt bằng.
Thủ pháp thứ năm là gắn cảm xúc với cơ quan điều tra.
Tác giả không yêu cầu giải trình. Không yêu cầu công khai hồ sơ. Không yêu cầu phản biện khoa học. Mà nhảy thẳng tới: “Tôi kính đề nghị C03 vào cuộc.”
Đây là kỹ thuật rất hiệu quả về mặt tâm lý. Bởi chỉ cần xuất hiện tên cơ quan điều tra, người đọc sẽ tự động liên tưởng rằng có dấu hiệu tội phạm. Trong khi giữa “có nghi vấn” và “có dấu hiệu phạm tội” là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.
Đến đây mới thấy thông điệp chính trị thực sự của bài viết. Thông điệp không phải là bảo vệ người dân. Thông điệp cũng không hẳn là phản biện dự án. Thông điệp sâu hơn là gieo vào đầu người đọc một nhận thức: “Chính quyền đang phục vụ doanh nghiệp hơn phục vụ nhân dân.”
Đó mới là sợi chỉ đen nhẫy xuyên suốt toàn bộ bài. Mọi chi tiết khác đều xoay quanh việc củng cố cảm giác ấy.
Nguyễn Xuân Diện khi chia sẻ bài này đóng vai trò khuếch đại thông điệp đó. Bởi từ nhiều năm nay, các nội dung ông ta lan truyền thường có chung một cấu trúc: chọn một điểm nóng đất đai hoặc quy hoạch, đẩy cao yếu tố xung đột giữa dân với chính quyền, giữa dân với doanh nghiệp, sau đó sử dụng ngôn ngữ đạo đức để phân chia phe phái.
Đọc bài này có cảm giác giống như xem một trận bóng mà bình luận viên chỉ bật loa cho một đội. Khán giả vẫn nghe được tiếng hò reo rất lớn, nhưng không còn nghe thấy tiếng của phần sân còn lại.
Đó là lý do bài viết tạo được cảm xúc mạnh nhưng giá trị chứng minh lại khá yếu. Nó khiến người đọc tức giận nhanh hơn là hiểu vấn đề. Nó tạo nghi ngờ nhiều hơn là cung cấp thông tin.
Và xét về kỹ thuật truyền thông, đó chính là mục tiêu quan trọng nhất của kiểu bài viết này. Không phải để chứng minh một điều gì, mà để người đọc mang theo một cảm giác: “Có gì đó rất mờ ám ở đây.” Chỉ cần cảm giác ấy được gieo thành công, tác giả đã đạt được mục đích, bất kể sau đó sự thật có đúng như vậy hay không.
Tin cùng chuyên mục:
Khi “Nông thôn mới” trở thành mỏ vàng của một số người
Đọc Như Thổ: Từ một công văn đến một âm mưu tưởng tượng
Bát Tràng và trò ảo thuật biến quy hoạch thành tang lễ di sản
Đằng sau mùi đậu phụ Võng La