Lâm Trực@
Mấy hôm nay thiên hạ bàn tán nhiều về cuốn Chuyện với Thanh. Ban đầu tôi không định đọc. Dạo này sách nhiều quá. Người viết sách nhiều, người giới thiệu sách cũng nhiều. Có lúc tôi còn có cảm giác người khen sách hình như đông hơn người mua sách. Nhưng thấy người ta tranh luận dữ quá thì cũng tò mò. Mà tò mò vốn là cái tật khó bỏ.
Đọc xong, điều đọng lại trong tôi không phải là sự thất vọng về một cuốn sách, mà là sự băn khoăn về một cách nhìn lịch sử.

Bởi tranh luận về lịch sử là chuyện bình thường. Nghiên cứu lịch sử cũng không phải học thuộc lòng một giáo trình bất biến. Người ta có thể phát hiện tư liệu mới, bổ sung dữ kiện mới, đưa ra những cách tiếp cận mới. Nhưng có một ranh giới không thể vượt qua: đó là không được phép tùy tiện với lịch sử.
Lịch sử không phải đất nặn để ai thích nhào thế nào thì nhào. Lịch sử càng không phải một món hàng tiếp thị mà muốn bán được cho giới trẻ thì phải thay đổi nội dung cho hợp thị hiếu. Một dân tộc có thể chấp nhận những cách kể khác nhau về lịch sử, nhưng không thể chấp nhận việc làm mờ đi bản chất của lịch sử.
Và càng đọc Chuyện với Thanh, tôi càng có cảm giác tác giả đang làm một công việc khá cực nhọc: cố chứng minh rằng mình hiểu giới trẻ.
Điều đó làm tôi nhớ đến mấy ông trung niên trên TikTok. Ngày nào cũng học nhảy theo nhạc trẻ, học nói tiếng lóng, học các trào lưu mới nhất. Xem cũng vui. Có điều, sau khi xem xong, người ta thường không nhớ bài hát. Người ta chỉ nhớ sự cố gắng.
Có lẽ đó cũng là cảm giác của tôi khi đọc Chuyện với Thanh.
Tôi hiểu vì sao nhiều người muốn đưa lịch sử đến gần thanh niên hơn. Đó là mong muốn hoàn toàn chính đáng. Nhưng tôi vẫn nghĩ có một sự nhầm lẫn khá phổ biến trong thời buổi này. Nhiều người tưởng rằng muốn nói chuyện với người trẻ thì phải biến mình thành người trẻ. Muốn giới trẻ đọc lịch sử thì lịch sử phải ăn mặc như giới trẻ, nói năng như giới trẻ, thậm chí suy nghĩ như giới trẻ.
Đó là một ngộ nhận.
Tôi chưa thấy đứa cháu nào yêu quý ông nội hơn chỉ vì ông nội thuộc vài câu tiếng lóng trên mạng. Điều khiến chúng yêu quý ông là vì ông là ông nội. Chứ không phải vì ông cố trở thành cháu nội.
Lịch sử cũng vậy.
Điều làm tôi băn khoăn nhất trong cuốn sách không phải mấy chữ “đi phượt”, “kiếm job” hay những cách diễn đạt tương tự. Nếu chỉ là chuyện dùng từ, có lẽ chẳng ai phản ứng mạnh đến thế.
Vấn đề nằm ở chỗ những từ ấy đã làm thay đổi cách người ta hiểu về câu chuyện.
Theo nghĩa thông thường, đi phượt là đi để trải nghiệm. Tìm việc là để kiếm sống. Đó là những nhu cầu rất bình thường và hoàn toàn chính đáng của con người.
Nhưng câu chuyện Nguyễn Tất Thành ra đi năm 1911 lại không phải một câu chuyện như vậy.
Người thanh niên ấy không lên tàu để khám phá thế giới theo nghĩa của một du khách. Cũng không lên tàu để tìm một nghề nghiệp ổn định nơi đất khách. Điều mà lịch sử ghi nhận là khát vọng tìm hiểu vì sao dân tộc mình mất nước, vì sao nhân dân mình sống trong cảnh nô lệ và con đường nào có thể giải phóng dân tộc khỏi ách thuộc địa. Đó là một cuộc tìm kiếm có mục đích rất rõ ràng: tìm đường cứu nước.
Nghe thì giống nhau. Cũng là xuống tàu, lên tàu. Cũng là đi từ nước này sang nước khác.
Nhưng lịch sử nhiều khi không nằm ở hành động. Nó nằm ở mục đích.
Một người leo núi để ngắm cảnh khác với một người leo núi để cứu người mắc kẹt trên đỉnh. Cùng một con đường, cùng một ngọn núi, nhưng ý nghĩa hoàn toàn khác nhau.
Một bác sĩ cầm dao mổ để cứu người khác với một kẻ cầm dao để gây hại. Công cụ giống nhau, động tác giống nhau, nhưng mục đích làm thay đổi toàn bộ bản chất của hành động.
Lịch sử cũng như vậy.
Bởi thế, điều khiến nhiều người phản đối không phải vì họ dị ứng với ngôn ngữ Gen Z. Họ phản đối vì cảm thấy mục đích lịch sử của hành động đã bị làm mờ đi. Từ một cuộc ra đi mang theo câu hỏi về số phận dân tộc, nó thấp thoáng trở thành một chuyến đi mang màu sắc trải nghiệm cá nhân. Từ một hành trình tìm đường cứu nước, nó thấp thoáng giống một cuộc khám phá thế giới.
Khoảng cách giữa hai cách hiểu ấy không hề nhỏ.Nó chính là khoảng cách giữa lịch sử và sự xuyên tạc lịch sử.
Điều lạ là nhiều người bênh vực cuốn sách lại cho rằng phải dùng ngôn ngữ như vậy thì giới trẻ mới chịu đọc lịch sử. Nghe mãi tôi đâm lo cho giới trẻ. Hóa ra họ bị đánh giá thấp đến thế sao?
Nếu đúng như vậy thì chắc rồi sẽ có ngày muốn dạy toán phải giải phương trình bằng meme, muốn dạy vật lý phải kèm biểu tượng cảm xúc, còn muốn dạy lịch sử thì phải biến các nhà cách mạng thành những travel blogger của thế kỷ trước.
May mà thanh niên Việt Nam thông minh hơn cách một số người đang hình dung về họ.
Người trẻ hôm nay có thể xem video ngắn, có thể dùng tiếng lóng, có thể thích những hình thức tiếp cận mới. Nhưng điều đó không có nghĩa họ không đủ khả năng tiếp nhận sự thật lịch sử bằng chính giá trị vốn có của nó. Đừng biến việc giáo dục lịch sử thành một cuộc mặc cả, trong đó người làm sách sẵn sàng thay đổi nội dung chỉ để đổi lấy vài cái gật đầu của độc giả.
Điều khiến tôi suy nghĩ nhiều nhất sau khi gấp cuốn sách lại không phải là vài từ ngữ gây tranh cãi hay một vài cách diễn đạt gượng ép. Điều đáng bàn hơn là một tư duy đang xuất hiện ngày càng nhiều hơn: người ta muốn làm mới lịch sử bằng cách làm khác đi lịch sử.
Nhưng lịch sử không phải một món đồ cũ để muốn sơn màu gì cũng được.
Người ta có thể kể lịch sử bằng ngôn ngữ hiện đại hơn. Có thể dùng hình thức mới, công nghệ mới, thậm chí những phương pháp truyền thông mới để đưa lịch sử đến gần giới trẻ. Nhưng mọi sự đổi mới đều phải dừng lại trước sự thật.
Bởi điều cần được trẻ hóa là cách kể, chứ không phải bản chất của lịch sử.
Có người cho rằng đó chỉ là vài từ ngữ. Nhưng lịch sử nhiều khi không bị bóp méo bằng những lời nói dối trắng trợn. Nó thường bắt đầu bằng những sự thay đổi rất nhỏ trong cách diễn đạt, trong cách giải thích, trong cách đặt vấn đề. Từng chút một, ý nghĩa ban đầu bị làm nhạt đi, mục đích ban đầu bị đẩy lùi ra phía sau, cho đến khi người đọc không còn nhìn thấy sự kiện như nó vốn có nữa.
Có người bước lên con tàu ở Bến Nhà Rồng để tìm đường cứu nước. Có người muốn biến hành trình ấy thành một chuyến trải nghiệm của tuổi trẻ. Khoảng cách giữa hai cách hiểu ấy tưởng gần mà xa như khoảng cách giữa người mang trên vai vận mệnh dân tộc với người đi tìm vài kỷ niệm cá nhân.
Lịch sử có thể được kể bằng giọng nói mới, nhưng không được phép thay xương đổi cốt. Bởi khi sự thật bị làm méo mó, thứ mất đi không chỉ là một chi tiết trong sách, mà là sự tôn trọng đối với ký ức của cả một dân tộc.
Và có lẽ vì thế mà câu chuyện của Chuyện với Thanh hôm nay không còn là câu chuyện của riêng một cuốn sách. Nó đã trở thành câu chuyện về giới hạn của người cầm bút khi bước vào địa hạt lịch sử. Bởi sáng tạo có thể có giới hạn rộng lớn, nhưng sự thật thì không thể bị uốn cong theo cảm hứng. Không ai, dù là tác giả, nhà xuất bản hay người làm truyền thông, được quyền tùy tiện với lịch sử.

Tin cùng chuyên mục:
Khai phóng… giàn giáo
Chiếc ví và những điều không nằm trong chiếc ví
Chuyện “Tôm khô cao su non”
Nghệ An: Không thể nhân danh “tự do” để chống phá pháp luật và gây rối xã hội